tuvanytecongdong.com

Những điều cần lưu ý khi khám và làm bệnh án trẻ em

Khám lách nên nhẹ nhành. Lúc trẻ khóc, để khám phổi. Phổi trái nghe rõ hơn phổi phải. Tim mạch nên khám lúc ngủ
10 điều cần khi khám và làm bệnh án trẻ em
1.Hành chánh: - Tiếp xúc: Cần tạo cho trẻ sự thoải mái, không sợ hãi. Tạo cho mẹ sự yên tâm, hợp tác, cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe. Phần thủ tục hành chánh cần làm đầy đủ: Số hồ sơ, tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp cha mẹ…. Làm thủ tục là thời gian tìm hiểu hoàn cảnh kinh tế xã hội, tâm lý người thân trẻ bệnh, tạo an tâm, cộng tác của gia đình, nhờ đó dễ thành công trong khai thác bệnh sử về sau.
2. Cân em bé: Cân trẻ bệnh là điều bắt buộc, theo dõi cân nặng theo Biểu đồ tăng trưởng, trừ trường hợp bệnh quá nặng, nhằm đánh giá tình trạng tăng trưởng, dinh dưỡng của trẻ, cho thuốc đúng liều lượng.
3. Bệnh sử: Cần biết nghe và biết hỏi:
- Cá nhân: Lý do đến khám. Triệu chứng chính và các triệu chứng phụ đi kèm. Cần biết rõ thời gian, số lượng, chất lượng: Thí dụ nóng sốt thì ngày thứ mấy, bao nhiêu độ, khởi sự đột ngột hay từ từ, sốt liên tục hay có cữ; Cần biết rõ các loại thuốc men đã sử dụng từ trước: thuốc có thể làm thay đổi triệu chứng.
- Tiền sử - Sản Khoa: Cân nặng lúc sanh, tình trạng lúc sanh…. Các bệnh cũ của cá nhân: Lao sơ nhiễm, động kinh, sốt rét?
- Dinh dưỡng: Phải khai thác kỹ vì ở trẻ em, nhiều bệnh do sai lầm dinh dưỡng gây ra. Cần biết cách cho bú, cách ăn dặm, nếu là bú sữa bò, cần biết cả lượng bú, cách pha chế. Cháo, cơm cần biết rõ cả số lượng và chất lượng.
- Chủng ngừa: Chủng những gì, đủ chưa, tại sao không đủ?
- Gia đình: Bệnh của cha mẹ, anh chị em (Lao? Sốt rét?...). Hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội của gia đình (tập quán kiêng khem, mê tín?)…
4. Thăm khám: Nguyên tắc khám trẻ em cần phải để trẻ trần truồng, nơi có đủ ánh sáng. Chính người mẹ sẽ giúp cởi bỏ tã lót, quần áo của trẻ.
- Trẻ dưới 6 tháng, khám nằm. Trẻ trên 6 tháng: ngồi trên bàn hoặc trên chân mẹ, có thể bế trên vai. Điều quan trọng là sự thoải mái cho trẻ. Trẻ trên 5 tuổi, có thể khám ngồi, đứng, tùy trường hợp. Trẻ 13 – 15 tuổi nên được đối xử như người lớn. Lúc khám có thể có mặt hoặc không có mặt người thân, tùy trường hợp.
- Phân biệt trẻ bệnh nặng và trẻ bệnh nhẹ: dựa vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là dựa vào yếu tố thần kinh: Trẻ không bệnh hay bệnh nhẹ thì linh động, hoạt bát, trẻ bệnh nhiều nằm lừ đừ, mệt, còn trẻ nặng thì li bì, lơ mơ, nói nhảm, gọi không dậy: quá nóng hoặc quá lạnh; thở khò khè, co kéo cơ hô hấp; tay chân lạnh, mạch nhanh, tím môi và đầu chi; mắt lõm, thóp lõm hoặc phồng, co giật, xuất huyết dưới da, tử ban…
- Tiến hành khám: Khám toàn diện, nhưng có tập trung ưu tiên. Thí dụ: Co giật thì chú ý viêm màng não, viêm não; Tiêu chảy chú ý các dấu hiệu mất nước; Sốt xuất huyết chú ý dấu hiệu tiền sốc…
- Khám toàn diện: Chú ý thường khám bụng trước khi khám phổi, tai mũi họng khám sau cùng. Khám lách nên nhẹ nhành. Lúc trẻ khóc, để khám phổi. Phổi trái nghe rõ hơn phổi phải. Tim mạch nên khám lúc ngủ.
5. Xét nghiệm: Không nên phí phạm. Chỉ sử dụng những gì thực sự cần thiết giúp cho việc theo dõi, chẩn đoán. Không nên lạm dụng. Không nên coi trẻ bệnh là vật thí nghiệm.
6. Chẩn đoán: Gồm chẩn đoán sơ bộ, chẩn đoán phân biệt và chẩn đoán xác định. Phải tiến hành điều trị ngay, như các trường hợp cấp cứu, trường hợp sốt rét, bạch hầu…
7. Xử trí: Cần xác định mức độ trầm trọng của bệnh (dựa trên mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở và nhất là tình trạng thần kinh).
- Tiên lượng: Cần dè dặt, thận trọng theo dõi sát vì bệnh trẻ em diễn tiến rất mau lẹ, triệu chứng thường không điển hình.
- Quyết định: Cho về điều trị theo đơn thuốc – Cho nhập viện điều trị - Cho chuyển lên tuyến cao hơn. Cần tự hỏi: Trẻ có bệnh nặng không? Chẩn đoán chắc chắn chưa? Nhà ở xa hay gần? Có dễ trở lại tái khám không? Kinh tế gia đình có cho phép điều trị nội trú không, có cho phép đi lên tuyến trên không? Ý kiến gia đình cần được tôn trọng, bàn bạc, thảo luận kỹ.
8. Điều trị: Thuốc men, vật lý trị liệu. Chú ý dinh dưỡng, tâm lý gia đình.
9. Hướng dẫn: Thầy thuốc hướng dẫn cho bà mẹ biết trẻ bệnh gì, cần điều trị bao lâu, tiên lượng ra sao, diễn tiến bệnh thế nào, nhờ vậy người mẹ yên tâm, hợp tác với thầy thuốc.
10. Làm bệnh án đầy đủ.
Bệnh hen và thuốc lá
Hen là 1 tình trạng viêm đường hô hấp mãn tính, phần lớn là do dị ứng với 1 dị nguyên nào đó như bụi, phấn hoa, ô nhiễm không khí, lông thú…. Khói thuốc lá cũng là 1 dị nguyên gây khởi phát cơn hen (ở khoảng 80% bệnh nhân hen) và làm nặng thêm bệnh hen không chỉ ở người hút thuốc lá mà cả những người không hút thuốc lá. Đối với trẻ em, tình trạng “hút thuốc lá thụ động” (hít khói do người hút thuốc nhả ra) làm tăng tần suất và mức độ nặng của các triệu chứng bệnh hen. Bên cạnh đó, cha mẹ hút thuốc lá còn làm tăng các triệu chứng hô hấp khác ở trẻ con như khò khè, ho, tăng tiết đờm dãi. Ở những trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh, khói thuốc còn là nguyên nhân của nhiều bệnh phổi nghiêm trọng khác. Những trẻ được sinh ra từ các bà mẹ hút thuốc lá thì dễ bị bệnh hen hơn là những trẻ khác. Các nhà khoa học đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng sự hạn chế tiếp xúc với môi trường có khói thuốc lá làm giảm sự trầm trọng của bệnh hen và 1 số bệnh phổi khác ở những trẻ mẫu giáo. Vì vậy, Hội đồng Khoa học về Thuốc lá và Sức khỏe của Anh quốc đã khuyến cáo rằng cần phải giáo dục sức khỏe cho mọi người về những nguy cơ của việc hút thuốc lá trong nhà để làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp ở trẻ em.
19/07/2016 , BS. Đỗ Hồng Ngọc - Báo Sức khỏe Thành Phố Hồ Chí Minh – Số 96 (6/2003)

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *