tuvanytecongdong.com

Bài viết 05/2017

Làm thế nào để chọn một chiếc lều cho kì nghỉ cắm trại của bạn

Trừ khi bạn đi cắm trại bằng xe máy của nhà, xe lớn của nhà hay xe kéo, chọn một chiếc lều đúng cho kì nghỉ cắm trại là một trong những bước đầu tiên bạn phải làm khi quyết định đi cắm trại. Dưới đây là danh sách một vài câu hỏi quan trọng để trả lời và giúp bạn tìm một nơi bán lều cắm trại trước cho quyết định cuối cùng của bạn:
 
Có bao nhiêu người sẽ ngủ trong lều?
 
Điều cân nhắc đầu tiên là quyết định có bao nhiêu người cần ngủ trong lều và bao nhiêu thiết bị dụng cụ bạn cần cất trong lều. Từ kinh nghiệm của tôi, luôn tốt hơn để mang lều to hơn, đặc biệt nếu bạn có nhiều hơn những dụng cụ cơ bản. Trừ một người từ đề xuất của nhà sản xuất là luật lệ tốt để chọn lều.
 
Thời kì nào hay mùa nào trong năm bạn định đi cắm trại?
 
Bước tiếp theo để cân nhắc là bạn định dùng lều vào mùa nào - nếu lều chỉ dùng mùa hè hoặc bạn cần lều đi cắm trại những mùa khác - thu, xuân, đông… Lều thường đi theo mùa - ví dụ như “một mùa”, “hai mùa”... Nói chung, lều mùa hè ở trong thời tiết ấm áp (như Croatia đang trong mùa hè) chọn lều “một mùa” sẽ hiệu quả. Cũng cân nhắc hầu hết khu cắm trại ở Croatia mở từ tháng năm đến tháng mười, cuối xuân/hè/đầu thu khi thời tiết tốt được mong đợi.
 
Bạn sẽ mang lều đi như thế nào?
 
Bước tiếp theo là xem xét bạn sẽ mang lều đi bằng cách nào - bạn mang trên lưng, đi bộ và sử dụng phương tiện công cộng hay lái xe đến khu cắm trại. Nếu bạn lái xe, trọng lượng lều không quan trọng như khi bạn đi bộ, vác ba lô hay đạp xe tới khu cắm trại đã chọn.
 
Bạn trả bao nhiêu cho lều?
 
Và cuối cùng, bạn sẽ quyết định về ngân sách của mình. Nhìn chung, như hầu hết những thứ khác, giá lều càng cao, lều càng chắc và tốt. Mọi người chọn nhiều loại dựa vào tình huống cụ thể của họ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, dù bạn chọn nơi bán lều cắm trại rẻ nhất, nó cũng nên đủ tốt để dùng trong một tuần hoặc hai tuần cắm trại dọc bờ biển Adriatic vào mùa hè.

Đèn pin siêu nhỏ Flashlights 101

Chọn ra một chiếc đèn pin có thể là một nhiệm vụ khó khăn. Có rất nhiều câu hỏi bạn cần hỏi trước khi lựa chọn ra chiếc đèn pin siêu nhỏ cho mình? Lumen là gì? Sự khác nhau giữa bóng đèn xenon và bóng đèn LED là gì? Loại pin sạc có phù hợp với bạn hay không? Chiếc đèn pin nên to cỡ nào? Tôi nên chi gì? Thế là bạn có một danh sách. Trong bài viết này, tôi sẽ cố gắng giải thích những điều cơ bản của đèn pin để bạn có thể đưa ra quyết định chính xác nhất nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn.
 
Điều đầu tiên bạn cần biết là xác định nhu cầu sử dụng đèn pin siêu nhỏ của bạn. Liệu bạn có cần một chiếc đèn pin đáng yêu như chú bọ dành cho cốp đựng găng tay của ô tô? Để bạn di chuyển quanh nhà khi mất điện? Để gắn lên đầu khi theo dõi một chú nai bị thương? Đảm bảo an toàn dưới vũ khí? Giống như nhiều loại công cụ khác, một vài chiếc đèn pin siêu nhỏ phù hợp với các nhiệm vụ riêng biệt
 
Các điểm chính của đèn pin siêu nhỏ
  •  Bezel - Phần đằng trước của chiếc đèn thường bao gồm ống kín đèn pin siêu nhỏ, gương phản chiếu và bóng đèn.
  • Lực sáng - là kết quả của sự đo đạc tia sáng sáng nhất của một chùm sáng.
  • CR123 - kích thường phổ biến nhất của của pin lithium 3v dùng một lần vì trọng lượng to lớn đến mức công suất.
  • Sạc nhanh: Một máy biến áp được sử dụng cho đèn sạc nhanh mà đôi khi có khả năng được sử dụng với các dòng sản phẩm nhập ngoại khác nhau.
  • Bóng đèn Halogen : Một bóng đèn đốt cháy sạch sẽ làm tăng tối đa lượng ánh sáng ra với khí halogen giúp giữ bên trong bóng đèn pin siêu nhỏ được sạch
  • HID - đèn xả cường độ cao thay thế dây tóc bằng một nang khí. Rất sáng, hiệu quả và sử dụng ít năng lượng. Yêu cầu có một chấn lưu.
  • Đèn sợi đốt - Một bóng đèn sử dụng dây tóc mỏng với dòng điện chạy qua nó
  • LED - Đèn phát sáng. Bóng đèn bền và sử dụng được  lâu. Thời gian chạy lên đến 100.000 giờ. Ít năng lượng hơn so với đèn sợi đốt nhưng có thể cho 100 giờ làm việc ở mức độ chiếu sáng thấp
  • Lumen - Một phép đo toàn bộ sản lượng của bóng đèn. Hội tụ không được xem xét
  • NiCd - Pin sạc đèn pin siêu nhỏ Nickel-Cadmium. Chắc chắn với hiệu suất cao
  • NiMH - Pin sạc hydride bằng niken-kim loại
  • Gương phản chiếu - Bao quanh bóng đèn và hướng chùm tia
  • Thời gian hoạt động - Pin chạy trong khoảng bao lâu
  • Xenon Bulb - Một bóng đèn đốt sạch giúp tối đa hóa lượng ánh sáng bằng khí Xenon giúp giữ cho phía trong của bóng đèn sạch sẽ
 

Cây cỏ ngọt và Steviosid - Phần 2

Với cấu trúc ent – kauren đã được triết tách bởi các nhà khoa học ở Trường Đại học Hiroshima và Trường đại học Hokkaido, Nhật Bản, bao gồm rebaudiosid A, mà chất này có độ ngọt và vị dễ chịu hơn so với steviosid. Cho đến nay, từ Stevia rebaudiana, chiết tách được 13 diterpen, glycosid có vị ngọt, gồm steviosid, steviolbiosid, dulcosid A và rebaudiosid A, B, C, D, E…, trong đó steviosid là chất ngọt có hàm lượng cao nhất trong Stevia rebaudiana ( 5 – 10%).
Tình hình sử dụng cỏ ngọt và steviosid ở Nhật Bản và các nước khác trê thế giới
Steviosid và dịch tiết từ cây cỏ ngọt được sử dụng với mục đích làm chất tạo vị ngọt và làm thuốc ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Nga… nhưng nhiều nhất là ở các nước Paraguay, Brazil và Nhật Bản. Ở Paraguay, cỏ ngọt được ghi vào danh mục những chất được sử dụng cho thức uống ngọt. Dịch chiết nước của lá cỏ ngọt được sử dụng như một tác nhân ngừa thai và cho việc điều trị bệnh tăng glucoz huyết. Nó còn được dùng làm thuốc bổ, trị đau bao tử, giảm huyết áp và điều hòa bệnh béo phì. Ở Brazil, có hai chế phẩm, trà cỏ ngọt và viên nang cỏ ngọt đã được cho phép bán chính thức kể từ năm 1980. Việc sử dụng rộng rãi nhất steviosid và dịch chiết tinh tế từ cỏ ngọt là ở Nhật Bản, nhất là từ khi nước này ban hành điều luật cấm sử dụng các chất ngọt tổng hợp như dulcin và cyclamat (1969), saccharin (1973). Ở vùng Đông Nam Á, Đài Loan, Hàn Quốc và nhất là Trung Quốc, đã trồng cỏ ngọt để xuất khẩu sang Nhật Bản. Hàng năm, Nhật Bản sử dụng khoảng 2.000 tấn lá khô để sản xuất steviosid và cao cỏ ngọt. Gia trị thương mại của các sản phẩm chất ngọt stevia ở Nhật Bản đã lên đến 2 – 3 tỷ yên/năm. Tất cả những nghiên cứu thực nghiệm về steviosid và cao cỏ ngọt được nêu trong các bài báo cáo khoa học của 11 công ty lớn thuộc Liên hiệp Servia (Servia Kogyokai) ở Nhật Bản. Steviosid và các sản phẩm từ cỏ ngọt được sử dụng rộng rãi vì nó có tính ổn định cao đối với nhiệt và khoảng rộng pH từ 3 – 9. Vị ngọt của nó giống với đường thường. Nó được xem là một chất ngọt không năng lượng, không gây sâu răng, không lên men và không bị vàng khi đun nóng. Một công trình nghiên cứu đã đưa đến kết quả là có thể làm tăng độ ngọt bà chất lượng vị của các glycosid trong cỏ ngọt. Chất ngọt từ cây cỏ ngọt được gọi là “chất ngọt stevia”.
TS. Võ Duy Huấn – Thuốc & Sức Khỏe – Số 230 (15/02/2003)

Cây cỏ ngọt và Steviosid - Phần 1

Tình hình sử dụng chất tạo vị ngọt trên thế giới
Đường thường hay saccharose (sucrose) sản xuất từ mía hay củ cải đường đã được sử dụng rộng rãi hàng ngàn năm nay trong thực phẩm, kể cả bánh mứt kẹo, thức uống hay dược phẩm. Tuy nhiên, việc sử dụng một lượng đường lớn hàng ngày có thể là nguyên nhân dẫn đến rối loạn biến dưỡng, nhất là đái tháo đường, béo phì, cũng như bệnh về răng lợi… Do đó, các nhà khoa học trên thế giới đã tìm kiếm những chất ngọt không năng lượng và không gây sâu răng, từ thiên nhiên hay tổng hợp để thay thế đường thường. Hàng loạt những chất ngọt tổng hợp ra đời và đã được sử dụng trên nhiều quốc gia như saccharin, cyclamat, acesulfam – K, aspartam, alitam và surcralose… Tuy nhiên, vào năm 1977, Cơ quan quản lý Thực – Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã ban hành luật cấm sử dụng saccharin, , cyclamat, acesulfam – K, aspartam, alitam trong thực phẩm vì đã phát hiện khối u bàng quang ở chuột khi sử dụng chất này ở liều cao. Một dipeptid khác, aspartam đã được ghi nhận như một chất ngọt có vị rất dễ chịu và đã được sử dụng trên 75 quốc gia khác nhau nhưng cũng bị chống chỉ định đối với những người mắc bệnh phenylkenton niệu. Vì vậy, xu hướng tìm kiếm những chất ngọt từ thảo mộc là một trong những hướng nghiên cứu mới hiện nay. Hơn 75 chất ngọt từ thực vật, đại diện trên 20 họ thực vật đã được tìm thấy. Nhiều chất ngọt từ thiên nhiên đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như: glycyrrhizin, mogrosid V, phyllodulcin, rebaudiosid A (Nhật Bản), thaumatin (Nhật Bản, Anh) và đặc biệt là steviosid từ cây cỏ ngọt (Stevia rebaudiana, Nhật Bản, Brazil và Hàn Quốc).
Thành phần hóa học của cỏ ngọt
Cây cỏ ngọt đã được thổ dân Guarani ở Bắc Paraguay dùng làm chất ngọt trong thực phẩm và trị các bệnh về tim, huyết áp cao, béo phì từ nhiều thế kỷ trước đây và được Bertoni mô tả cách đây hơn 100 năm (1899). Nhưng đến năm 1952, một nhóm nghiên cứu của Viện Quốc gia về Viêm khớp và Bệnh Chuyển hóa và Viện Sức Khỏe Quốc gia ở Bethesda, Maryland (Mỹ) mới nghiên cứu lại kỹ hơn cấu trúc hóa học của steviosid bao gồm phần aglycon là steviol (13 – hydroxy – ent – kaurenoic acid) và 2 phần đường, một phần đường glucopyranose gắn ở nhóm carboxyl, phần đường thứ hai là một sophorose [2 – O – (β – D – glucopyranosyl) – D – glucose] gắn vào nhóm hydroxyl. Trong thập niên 70, những nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của stevia rebaudiana cho thấy 7 diterpen glycosid có vị ngọt.
TS. Võ Duy Huấn – Thuốc & Sức Khỏe – Số 230 (15/02/2003)

Ăn dầu mỡ thoải mái mà vẫn giảm cân? - Phần 2

Chỉ 6 tháng sau, những người theo Phép tiết thực Atkins đã giảm được trên 14kg, trong khi những người theo Phép tiết thực của Hội Tim Hoa Kỳ chỉ giảm được có trên 9kg thôi và có nhiều người kiên trì theo Phép tiết thực Atkins hơn. Ở cả 2 nhóm cholesterol trong máu đều hơi giảm. Tuy nhiên nhóm theo Phép tiết thực Atkins có hàm lượng cholesterol HDL (“tốt”) tăng 11%, và triglycerid thì giảm 49%. Ở nhóm theo Phép tiết thực của Hội Tim Hoa Kỳ, cholesterol HDL không thay đổi và triglycerid giảm có 22% thôi. (Hàm lượng triglycerid cao có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim). Trong cả 2 nhóm tình nguyện viên, tổng số hàm lượng cholesterol LDL (“xấu”) không thay đổi bao nhiêu, song có bằng chứng là nó đã chuyển sang dạng ít có khả năng làm tắc động mạch hơn.
Cần nghiên cứu dài hạn hơn
Bác sĩ Westman tạm kết luận một cách khiêm nhường “Cần nghiên cứu thêm nữa trước khi có thể khuyên nên theo một Phép tiết thực như vậy,… Tuy nhiên, dù có lo hàm lượng lipid huyết thanh tăng lên cũng không phải là một trở ngại cho một công trình nghiên cứu kiểu này.” Không có một công trình nghiên cứu nào có thể khiến cho người ta “đổi mới tư duy” về vấn đề này, đặc biệt là vì khó lòng duy trì được sự giảm cân ban đầu với bất cứ Phép tiết thực nào. Một số những thắc mắc trên đây có thể được giải đáp nếu kéo dài cuộc nghiên cứu trong 1 năm, có khả năng sẽ được Viện Y tế quốc gia (Hoa Kỳ) tài trợ. Cuộc thực nghiệm sẽ thử Phép tiết thực Atkins trên 360 bệnh nhân dưới sự chủ trì của Bác sĩ Gary Foster, Đại học Pennsylvania. Trong khi chờ đợi, Chủ tịch của Hội Tim Hoa Kỳ, Bác sĩ Robert Bonow thuộc Đại học Northwestern (Texas), tuyên bố là Hội sẽ cứu xét lại Phép tiết thực Atkins khi nào được kết quả từ những công trình nghiên cứu nói trên. Bác sĩ Sidney Smith, phụ trách nghiên cứu của Hội Tim Hoa Kỳ, cho rằng Phép tiết thực Atkins đã không làm tăng hàm lượng cholesterol LDL là điều đáng ngạc nhiên. Theo Ông, “Một công trình nghiên cứu nhỏ mà cho kết quả trái ngược lại hẳn bao nhiêu bằng chứng về tác hại của chất béo cho nên chưa có thể thay đổi ngay lập tức những khuyến cáo về tiết thực”. Bác dĩ Alice Lichtenstein, chuyên viên dinh dưỡng đại học Tufts, có ý kiến là người ta chú ý quá nhiều tới lượng cacbohydrat và chất béo trong chế độ ăn của bệnh nhân khi mục đích chính của họ là muốn giảm cân. “Không có sự kết hợp kỳ diệu nào giữa bột – đường, béo và đạm, điều đó không quan trọng, về lâu về dài. Cái cốt yếu là số Calo, Calo, Calo”. Tuy nhiên trong kỳ họp năm nay: Hội tim Hoa Kỳ cũng đã có những cập nhật khuyến cáo:
- Khuyến khích những người có tiền sử bệnh tim mỗi ngày ăn ít nhất một suất cá “béo”.
- Theo công trình nghiên cứu của Đại học Harvard, theo dõi sức khỏe của nữ điều dưỡng trong 12 năm, những phụ nữ nào tăng mức tiêu thụ rau và trái cây thì giảm được 26% nguy cơ bị béo phì.
- Dựa vào các nghiên cứu của Đại học Michigan, những phụ nữ lớn tuổi dư cân hoặc có số cân không ổn định, tăng, giảm thường xuyên, thì hay bị giảm lưu lượng máu tới tim.
BS. Nguyễn Lân Đính – Thuốc & Sức Khỏe – Số 230 (15/02/2003)

Ăn dầu mỡ thoải mái mà vẫn giảm cân? - Phần 1

Cho tới nay người ta cứ cho là tiết thực Atkins, “ăn thịt bò chiên thôi, còn khoai tây thì để lại” (trong món bít – tết khoai tây chiên) so với chế độ tiết thực do Hội Tim  Hoa Kỳ (HK) cổ vũ có nét chính là “giảm béo” để làm cho giảm cân, thế nào cũng thua. Thì nay chính Hội Tim Hoa Kỳ phải công nhận là chế độ Atkins thắng thế. Thực ra, công luận cũng đã ủng hộ phép tiết thực Atkins với đặc điểm là tỷ lệ béo cao đối lại tỷ lệ bột – đường thấp, vì hiệu quả của nó, song bây giờ mới có những công trình nghiên cứu (do chính những chuyên viên về tim mạch thực hiện) công nhận hiệu quả làm giảm cân và hơn thế nữa – làm giảm cả cholesterol trong máu. Bao lâu nay, phép tiết thực (PTT) Atkins cho ăn giới hạn carbohydrat còn thức ăn béo thì thoải mái, như là một thách thức đối với các chuyên gia tim mạch, vì theo quan niệm “chính thống” tỷ lệ béo cao chỉ có thể hại tim. Giờ đây, chính những chuyên gia này, đã thử nghiệm chế độ ăn nói trên và họ đành phải công nhận là các kết quả họ thu thập được làm họ rất ngạc nhiên. Họ cứ lo cholesterol tăng cao, nhưng chế độ “béo cao” lại làm nó hạ xuống và những người tình nguyện ăn theo chế độ này đã giảm cân được nhiều hơn. Bước đầu, số người cư dân tình nguyện theo thực nghiệm còn thấp, nên công trình chưa xét tới lợi, hại của phương pháp về lâu, về dài – kể cả không biết có giữ được như vậy không, hay là sẽ lại… sớm lên cân trở lại như cũ! Các nhà nghiên cứu tuyên bố là còn cần phải nghiên cứu thêm trước khi chính thức công nhận Phép tiết thực Atkins, song ít nhất họ tin tưởng rằng nó đủ an toàn để có thể tổ chức những thực nghiệm rộng rãi hơn cho nhiều người hơn.
Phép tiết thực Atkins đối lại Phép tiết thực Hội Tim Hoa Kỳ
Có ít nhất 2 công trình nghiên cứu chính thức Phép tiết thực Atkins đã công bố kết quả trong hội nghị ngành y băm vừa qua, và tất cả đều đạt kết quả như nhau. Công trình mới đây nhất do Bác sĩ Eric Westman, Đại học Duke, chủ trì đã công bô kết quả trong kỳ họp thường niên của Hội tim Hoa Kỳ - từ trước tới nay vẫn là thành trì của quan điểm “phải giảm chất béo để phòng chống bệnh tim”. Bác sĩ Westman, một chuyên viên về nội khoa tại Trung tâm tiết thực và sức khỏe đại học Duke, cho biết ông quyết định nghiên cứu Phép tiết thực Atkins vì có rất nhiều bệnh nhân và bạn bè đã tự ý áp dụng nó. Ông tiếp cận tổ chức Robert C. Atkins ở Thành phố New York đề nghị cơ quan này tài trợ cuộc nghiên cứu. 120 người dân cư đã tình nguyện tham gia cuộc nghiên cứu. Họ đã được bốc thăm ngẫu nhiên xem ai theo Phép tiết thực Atkins, ai theo Phép tiết thực bước đầu của hội Tim, là một Phép tiết thực có tỷ lệ béo thấp đã được sử dụng rộng rãi. Theo Phép tiết thực Atkins, lượng bột đường giới hạn còn có 20g/ngày và 60% tổng số Calo là do chất béo đem lại. Theo Bác sĩ Westman “Đây là một tỷ lệ béo cao, vượt mức thông thường”. 
BS. Nguyễn Lân Đính – Thuốc & Sức Khỏe – Số 230 (15/02/2003)

Cây thanh táo

Còn có tên là trường sơn cây, cây thuốc trặc. Tên La tinh là Justicia gendarussa. Họ Ô rô. Là cây thông dụng dùng bó đắp trị trặc (bong gân), do đó người dân luôn gọi là cây thuốc trặc. Ở nhiều địa phương, đi hỏi cây thanh táo không ai biết, mà hỏi cây thuốc trặc thì biết. Là cây nhỏ, cao 1 – 2m, đường kính thân khoảng 1 – 1,5cm. Thân màu tím sẫm. Đoạn thân, cành ở phái trên chỗ lá mọc thì hơi phình ra. Lá mọc đối, hình mác, dài 10 – 15cm, rộng 2 – 3cm, bìa bền, hai mặt lá trơn nhẵn, gân giữa ở mặt dưới lá thì cùng màu với thân. Hình dáng chung tương tự cây kim vàng nhưng lá kim vàng có gân giữa màu đỏ ở mặt trên lá. Cây rất dễ giâm cành, cành non hay già đều giâm được. Cây thường được trồng làm viền ở các bãi cỏ vườn hoa, hoặc cắt tỉa làm rào xanh. Không ai trồng một cây trong chậu vì không đẹp.
- Tính vị: hơi cay, tính bình. Vào kinh can, vị, đại tràng.
- Tác dụng: hoạt huyết, giảm đau.
Trong đơn thuốc trị trứng vàng da thường có thêm dễ thanh táo 40g. Vết thương nhiễm trùng, bỏng: lá thanh táo, lá mỏ quạ tươi, lượng bằng nhau, giã đắp hoặc bắt lấy nước, tẩm gạc đắp. Trong thuốc bó gãy xương có thêm lá thanh táo, giúp giảm đau sưng, mau liền xương do tác dụng hoạt huyết (bó và uống). Đặc biệt, trong trật đả (chấn thương bầm dập sưng đau) bong gân được dùng nhiều nhất. Lá tươi giã nát, đắp bó sẽ khỏi, nhanh hết sưng đau, mau tan máu bầm. Cũng với tác dụng hoạt huyết, rễ thanh táo được dùng trong đơn thuốc trị thấp khớp, mỗi ngày 30g khô, nấu uống. Là một thuốc hoạt huyết không phải mua, có tác dụng cả ở dạng uống và đắp ngoài, tùy sự linh hoạt phối hợp với thuốc khác, cây thanh táo được ứng dụng để trị nhiều bệnh với tác dụng hoạt huyết.
Con bạn có chí? Hãy xoa tỏi giã nát lên tóc của cháu
Đây là một phát minh tình cờ của Vicente Teofilo Roldan, nhà thầu khoán 52 tuổi, ở vùng Mendoza (Argentina). Teofilo nghiên cứu tác dụng của tỏi đối với côn trùng có hại cho rau cải. Ông đã chiết tách được chất alliin, hoạt chất chính của tỏi, một dẫn chất của một acid amin có chứa lưu huỳnh (S). Theo các nhà nghiên cứu, chất alliin là một phân tử không bền, gây phản ứng mạnh cho ra nhiều dẫn chất. Alliin có thể biến đổi thành allicin, dưới tác dụng của enzym “allinase”. Allicin tạo mùi đặc biệt của tỏi. Bác sĩ Giuan Jose Barboza, Đại học Cuyo, đã thử allicin trên 50 trẻ có chí, ở một nhà giữ trẻ của một khu phố nghèo. Tóc của các trẻ được làm ướt, rồi bôi dung dịch allicin vào tóc. Để như vậy trong 15 phút. Chỉ thực hiện một lần: 96% chí đã chết và sau 7 ngày, không còn một con chí nào cả. Mùi tỏi sẽ biến mất sau một lần gội đầu với “shampoo” hay xà phòng thơm. Như vậy, thay vì allicin tinh chất, hoặc allicin được bào chế dưới dạng thành phẩm (kem hoặc nước), người ta có thể giã nát tỏi và bôi lên tóc của trẻ em có chí. Hoặc dùng nước ép tỏi cũng được. Nhưng chú ý đừng để nước tỏi dính vào mắt, da đầu vì có thể gây bỏng.
TS. Phạm Văn Tất – Thuốc & Sức Khỏe – Số 230 (15/02/2003)

Năm Dê: Phiếm bàn về Dương sự - Phần 3

Ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương có khoảng 190 triệu người trong diện. Trên thực tế vẫn có những ông “càng già càng dẻo càng dai”, dù ở tuổi ngoài cổ lai hy vẫn còn khả năng… làm cha. Còn phụ nữ thì xem như mất hẳn khả năng sinh sản ngay từ sau khi mãn kinh (50 – 55 tuổi). Tuy nhiên, với tuổi tác, trọng lượng cũng như chất lượng của tinh hoàn đều giảm sút. Các tế bào Leydig tiết ra testosteron cũng giảm hiệu quả. Còn mô cương (trong thể hang) ở “bộ phận chính” cũng vị xơ hóa. Tinh dịch thường ít hơn, loãng hơn, mức độ tinh trùng khỏe mạnh giảm rõ rệt và ít di động hơn. Cũng theo thống kê, nam giới ở trong trạng thái này thường trên 40 tuổi và ở lứa tuổi này, cơ thể thường bắt đầu những rối loạn chức năng hoặc bệnh tật thực sự như tăng huyết áp, tiểu đường, các bệnh lý khác về tim mạch, tâm thần kinh, tiêu hóa,… Chính những rối loạn và bệnh tật trên đây là thủ phạm gây ra “thất vọng” cho các đấng mày râu. Đã có bệnh thì phải uống thuốc và đến lượt các thuốc điều trị cũng góp thêm nguyên nhân gây “suy yếu” chưa kể việc nghiện rượu và thuốc lá. Điều thú vị là đa số các trường hợp “yếu” thực sự do yếu tố tâm lý. Những quảng cáo trên truyền hình, phim ảnh, báo chí đã góp phần không nhỏ gây “chạm tự ái” quý ông “sồn sồn” khi mô tả những biểu tượng tình yêu – tình dục đều là các nhân vật trẻ, khỏe, đẹp. Hơn nữa, lứa tuổi 40 trở lên phải chịu nhiều áp lực từ công việc, cuộc sống nên thường mệt mỏi, bực bội, khó chịu và hệ quả là có vài lúc “không còn khả năng” hoặc “không được như ý muốn”. Sau những lần như vậy, người đàn ông đâm ra mặc cảm, không thỏa mãn và cũng không tiện nói ra. Riêng về thuốc, cho đến giờ cả Tây y và Đông y vẫn chưa tìm ra loại nào xứng đáng với tên gọi “thuốc cường dương” hoặc “thuốc kích dục” với ý nghĩa đen là uống vào lập tức cảm thấy “sung” cấp kỳ, có thể “triển khai” bất cứ lúc nào. Ngay cả thuốc Viagra mà lâu nay đang nổi đình nổi đám cũng chỉ có tác dụng tốt khi “đương sự” vẫn còn ham muốn tình dục, tức là phải có sự tham gia của hệ thần kinh trung ương. Thật ra cũng có thuốc tốt với người này, mà không có tác dụng với người khác. Với tuổi tác, điều phải chấp nhận là khả năng có giảm sút, đó là quy luật của cuộc đời, cần phải biết tiếp thu với tinh thần thư thái, không dễ bị ám ảnh chạy theo cái đó, mà dành sức lực cho gia đình và xã hội.
Minh Trí – Thuốc & Sức Khỏe – Số 228+229 (15/01/2003 & 01/02/2003)

Năm Dê: Phiếm bàn về Dương sự - Phần 2

  Tây y cũng có những cơ sở giải phẫu học và phôi học để cho rằng hệ niệu và tuyến sinh dục là những cơ quan hình thành sớm nhất trong những tuần đầu của sự phát triển phôi, đồng thời chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:

+ Cả hai hệ đều do cùng một cụm tế bào của trung phôi diệp nằm ở phần đuôi của phôi sinh ra.
- Hai hệ có cùng một đường bài tiết là ống Wolff đón nhận tiền phôi thận, trung phôi thận và tuyến sinh dục chưa hoàn chỉnh (chưa phân định giới tính). Khi đã định giới tính rõ ràng, ống Wolff ở phái nam sẽ trở thành ống tinh.
+ Đến khi có hậu phôi thận, hay thận hoàn chỉnh với niệu quả, thì những chất do tuyến sinh dục hay thận bài tiết đều đổ vào một sơ quan chung là xoang niệu – sinh dục.
+ Niệu đạo ở Nam giới có hai ống phóng tinh đổ vào cũng những đường ống của tuyến tiền liệt bài tiết dịch đổ vào. Dịch này kết hợp với dịch của tinh hoàn và của túi tinh thành kinh dịch được phóng ra ngoài khi giao hợp. Như vậy, tinh dịch và nước tiểu được ông thoát ra ngoài cùng một đường là niệu đạo, do vậy, những bệnh ở hệ đường sinh dục, thường ảnh hưởng nên nghệ niệu và ngược lại.
- Suy giảm dương sự, chuyện đáng quan tâm.
Tình trạng này được biết dưới nhiều tên như bất lực, liệt dương, nhược dương hay yếu sinh lý… hoặc nghe có vẻ mỹ miều hơn như dương nuy, âm nuy, cân nuy hoặc dương sự bất cử… suy giảm dương sự là một tình trạng rối loạn chức năng của hệ thống sinh dục nam, giống như rối loạn ở những cơ quan khác. Nó được mô tả như trạng thái dương vật của nam giới không thể  cương lên được hoặc có cương lên  nhưng không lâu hay không đạt đủ độ cứng cần thiết mặc dù “dương sự” vẫn còn ham muốn tình dục. Đông y xem đây là một dấu hiệu liên quan tới suy giảm chức năng cơ quan nội tạng. Vấn đề này lúc nào cũng được quan tâm, và đặc biệt hiện nay được chú ý ở quy mô toàn thế giới, nước nào cũng đề cập đến, khác chăng là ở chỗ có nước đặt ra một cách lộ liễu, có nước e dè và kín đáo. Nhưng xét cho cùng, tình dục cũng là một thứ văn hóa, và một vấn đề khoa học. Theo số liệu thống kê, tình trạng nhược dương tỉ lẹ thuận với tuổi tác, hay nói nôm na là “càng già càng… đuối”. 
Minh Trí – Thuốc & Sức Khỏe – Số 228+229 (15/01/2003 & 01/02/2003)

Năm Dê: Phiếm bàn về Dương sự - Phần 1

Dương sự, chuyện…  khó nói
Khó nói vì đây thường là chuyện tế nhị, chỉ được truyền tai cho nhau, không nên phô bày trên mặt báo. Khó nói vì sẽ có người la lên bộ hết việc rồi hay sao mà Tết nhất lại đem ba cái “chuyện đó” ra bàn. Quả là có nhiều chuyện khác quan trọng hơn, đáng được nói đến hơn như bản đồ “gen” người vừa được công bố, như chuyện ông bác sĩ người Ý nào đó đang dọa sẽ cho ra đời một em bé sinh sản vô tính, hoặc như chuyện tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS đang tăng cao chóng mặt. Nhưng người viết xin mạn phép thưa rằng, có ba lý do để đem ba cái “chuyện này” ra bàn. Thứ nhất là, theo quan điểm Y học cổ truyền (YHCT), mùa Xuân là mùa khởi đầu một năm mới, là lúc Dương khí tràn đầy, khí hậu ấm áp, vạn vật hồi sinh sau một mùa Đông lạnh lẽo, ảm đạm, khí âm còn lởn vởn. Thứ hai là, “chuyện đó” tuy vẫn là chuyện tế nhị, nhưng đang ngày càng trở thành mối quan tâm của nam giới, nhất là những “đại nhân” tuổi trên 40, đang có những vị trí xã hội nhất định, có quyền hoặc ít ra cũng có tiền, hoặc cả hai, mà số lượng ngày một đông hơn do nhân loại ngày càng sống lâu hơn. Và thứ ba là, năm nay là năm cầm tinh con dê, con vật được gán cho khả năng thực hành “chuyện đó” vô cùng phi thường (dĩ nhiên là dê… đực), chẳng thế mà các quán lẩu Dê trên đường Lê Văn Sỹ chiều nào cũng đông khách, và trong đám thực khách không chỉ toàn là nam giới.
- Thận – gốc của dương sự
Ở đây chỉ xin lạm bàn về mối liên quan giữa hai chức năng bài tiết và sinh dục trên quả thận. Đông y quan niệm trong thận có chức năng sinh dục với những cơ sở vững chắc về sinh lý học và bệnh lý học. Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: “Khi trẻ con mới hình thành, trước hết sinh hai thận với một điểm nguyên dương ở khoảng giữa, ấy là Mệnh Môn”, mà Mệnh môn (theo Đông y) chủ về sinh dục, chủ về chân hỏa (sinh lực), và chủ về chân thủy (huyết dịch). Mệnh môn là mọt nơi tụ hội tinh của đàn ông và huyết của đàn bà, có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc duy trì sự sống, duy trì sự sinh trưởng phát dục bình thường của con người.
Minh Trí – Thuốc & Sức Khỏe – Số 228+229 (15/01/2003 & 01/02/2003)