tuvanytecongdong.com

Bài viết 12/2016

Nói thêm về chuyện trẻ con biếng ăn - phần 2

Biếng ăn vì cho ăn không đúng lúc
Hay có khi, đơn giản hơn, vì lúc đó bé chưa muốn ăn, vì chưa đói bụng: nhiều khi bà mẹ nóng lòng muốn con mình mau lên cân, cứ ép bé ăn hoài và nhất là hay cho ăn bánh ngọt; có thể bụng hãy còn lép đấy, nhưng ăn luôn miệng thức ăn ngọt, có đường rất dễ làm ngang dạ không cảm thấy đói. Người ta thường khuyên là muốn cho trẻ con ăn được, thì đừng bao giờ cho ăn vặt trước các bữa ăn.
Chán ăn vì ăn thụt lui với hướng phát triển
Theo hướng phát triển về ăn uống từ tuổi ăn dặm trở đi - từ 4 tháng tuổi, bước sang tháng thứ 5 trở đi - trẻ con dần dần sẽ tập ăn chuyển dần từ lỏng tới đặc, từ thể chất mịn tới lổn nhổn, từ uống nuốt đến nhai rồi mới nuốt - từ “bú” sang “mớm” - từ bốc tay đến cầm muỗng xúc đưa lên miệng. Cũng vậy, thức ăn từ độc 1 thức ăn - tự nhiên nhất là sữa mẹ - sẽ chuyển sang làm quen từng thức ăn mới lạ 1, theo nguyên tắc “trước lạ, sau quen” để đến tuổi thôi nôi là kể như đã làm quen với gần hết mọi thức ăn của người trưởng thành. Từ 12 tháng tuổi, với 6 cái răng, cho đến khi mọc đủ 20 răng sữa, đứa trẻ cần được người lớn “thông cảm” với nhu cầu khám phá, tự điều khiển cơ thể của mình trong đi, đứng, ngồi, sử dụng tay chân không phải chỉ để chơi, mà cũng còn để ăn nữa, Cha, mẹ hay bà, hoặc người chăm sóc trực tiếp trẻ nên kiên tâm bỏ thì giờ dậy trẻ từng chút 1 trong việc tìm cách “làm chủ bản thân” mình trong những sinh hoạt hàng ngày: làm vệ sinh, tắm, thay quần áo, chơi,... và ăn. Đừng dành lấy làm hết mà chỉ cho em bé cách làm, cùng với những vỗ về, khuyến khích, nựng nịu, là em bé sẽ mau phát triển và không biếng ăn nữa. Tuy nhiên, muốn tạo những thói quen mới, bao giờ cũng lập lại đều đặn như theo 1 “nghi thức” để tạo ra 1 nề nếp. Em bé được khuyến khích trong những hướng phát triển của mình, sẽ trông chờ cho “đến giờ” chơi, ăn, tắm… vì những lúc đó đã trở nên những khoảnh khắc thích thú của thời biểu sinh hoạt hàng ngày chứ không coi đó như 1 cực hình nữa.
Phải làm gì cho trẻ thèm ăn
Nên tạo điều kiện nào để cho trẻ thèm ăn? (cho 1 em bé trên 6 tháng tuổi)
Khởi đầu bữa ăn, nên cho bé ăn những thức ăn có vị hơi mặn, hay hơi chua chua (như nước chanh, hay nước canh chua) sẽ có tác dụng kích thích cho nước miếng - và luôn cả dịch vị trong bao tử - làm cho bé cảm thấy muốn ăn. Em bé đã mọc đủ 20 răng sữa rồi, ta cũng cần cho bé có dịp nhai thức ăn, đừng nghiền nhỏ quá và nên tập cho bé tự xúc lấy, ăn 1 mình, hưởng được cái thú vị tay làm hàm nhai, chứ không để phải có người đút, chịu đựng bữa ăn 1 cách thụ động.
PV - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15.07.1995)

Thoáng nhìn ngành dược ở Mỹ - Phần 1

Ở Hoa Kỳ, việc quản lý thuốc men được giao cho một cơ quan đầy quyền lực, Cơ Quan Quản Lý Thực – Dược phẩm (Food and Drug Administration, viết tắt là FDA). Ba nguyên tắc cơ bản chỉ đạo sự hình thành, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan này :
1- Đây là một tổ chức đơn thuần làm nhiệm vụ quản lý nhà nước. Từ cơ quan này, thông qua công tác nghiên cứu dài lâu và lắm công phu, mọi quy định liên quan đến thuốc men được ban hành và được kiểm tra chặt chẽ việc thực hiên. Do sự phát triển của khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, việc phòng và chữa bệnh ngày càng tinh vi và càng phức tạp, những quy định mới không ngừng được bổ sung, làm cho hệ thống về luật lệ dược phẩm thêm phong phú và chi ly đến mức không có kẽ lọt, khó có sơ hở, nên có người cho là quá nặng nề. Nhưng điều đáng chú ý là việc chấp hành rất nghiêm khắc.
2- Mối quan tâm hàng đầu là vấn đề chất lượng, xuất phát từ việc bảo vệ ở mức cao nhất, vừa là quyền lợi của người tiêu dùng, vừa là sức khỏe và tính mạng của người dân, người sử dụng thuốc, không thể để bất cứ một yếu tố nhỏ nhoi nào gây tác hại. Vì thế, phải hết sức đắn đo, thận trọng trong mọi quyết định về các hoạt động trong lĩnh vực thuốc men, trong sản xuất, trong đăng ký thuốc mới, trong nhập cảng, trong phân phối, trong tồn trữ, trong sử dụng v.v… Người ta quan niệm rằng Cơ Quan Quản Lý Thực – Dược phẩm và hệ thống luật lệ là một cửa ải, một trạm gác quan trọng nhất nhằm ngăn trở không cho bất cứ kẻ gian nào lọt vào nội địa, bất cứ một sản phẩm xấu nào – có thể gây tác hại – được đưa vào thị trường, đưa vào tiêu dùng. Mọi sơ xuất nhỏ đều có thể đem đến một hậu quả khôn lường.
3- Phải xem thực phẩm như dược phẩm. Còn hơn cả dược phẩm, vì mọi người tỏng xã hội đều dùng thực phẩm, còn chỉ có người bệnh, một tỷ lệ hạn chế của xã hội, mới sử dụng thuốc men. Vì vậy, phải quản lý chất lượng thực phẩm hết sức nghiêm ngặt, và gắn thực phẩm với dược phẩm vào một tổ chức quản lý chung.
TS. Nguyễn Duy Cương – Thuốc & sức khỏe – Số 52 (15-09-1995)

Taxus Baccata không phải là cây Thủy Tùng - Phần 1

Tác giả bài báo: “Cây Thủy Tùng, (if), nguồn hy vọng mới cho bệnh nhân ung thư”, trên mục Khoa học và đời sống, trang 15 số 93 ngày 6 tháng 7 năm 1995 của Báo Thanh Niên và tác giả bài báo : “ Những thông tin mới về bệnh ung thư”.Trên trang chủ nhật số 6463m ngày 9 tháng 7 năm 1995 Báo Sài Gòn Giải Phóng, đã viết 2 bài báo, thông tin về một loài cây mới phát hiện, chữa được bệnh ung thư, đó là cây Thủy Tùng. Đó là một thông tin quan trọng đối với các nhà Tài nguyên thực vật và Sinh dược học. Tôi nhớ một điều quan trọng trong Bản Nghị quyết của “Hội nghị thế giới lần  thứ 12” mà tôi được mời dự hội thảo ở Leningrad, tháng 7 năm 1975, là tìm kiếm phát hiện các loài cây chữa bệnh ung thư trong rừng nhiệt đới.Hai mươi năm đã trôi qua trên thế giới, nhiều cây thuốc chữa bệnh ung thư đã được nghiên cứu gây trồng phát triển, trích chiết hoạt chất, bào chế thành biệt dược đặc trị, nhưng chưa có loài nào, có hiệu nghiệm và được sử dụng phổ biến cho nên ở các bệnh viện ung bướu vẫn phải sử dụng các phương pháp xạ trị và hóa trị. Vả lại có nhiều loại ung thư như ung thư máu, ung thư vú, ung thư cổ tử cung buồng trứng ở phụ nữ, ung thư vòm, phổi của người hút thuốc lá v.v… nhưng nhiều loài cây chỉ chữa trị được một, hai loại ung thư, nguyên nhân gây ra ung thư cũng như cơ chế sinh lý, tác dụng của từng loại hoạt chất của các loại cây, để ngăn chặn sự phát triển các tế bào ung thư , cũng chưa rõ lắm. Ở Việt Nam, một nhóm các nhà thực vật trong Viện Sinh học, thuộc Viện Khoa học Việt Nam ở Hà Nội, năm 1983 đã nghiên cứu trồng cây Dừa cạn  (Catharanthus roseus = Vinca rosea) họ Trúc đào (Apocynaceae), ở phân viện khoa học phía Nam, phòng hợp chất thiên nhiên ở Viện Hóa học đã thu thập mẫu cây Ochrosia borbonica ở Côn đảo, để nghiên cứu trích chiết hoạt chất chữa ung thư, vì ở Pháp năm 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Đạt Xường đã trích chiết được chất Elliipticine, từ cây Ochrosia elliptica, chữa được ung thư vú và đã lập một hồ sơ y dược hoàn chỉnh để giới thiệu loại thuốc này, với các Viện bào chế được liệu pháp nhưng không được chấp nhận để bào chế thành biệt dược đặc trị. Hơn 10 năm nay, không được thông tin mới, về công cuộc chữa bệnh ung thư, bằng các dược phẩm thực vật, nên 2 bài báo này đã làm tăng sự chú ý chẳng những của các nhà ung thư học, và cả các nhà Tài nguyên thực vật và sinh dược học. Tuy nhiên, còn một thắc mắc lớn là cây “Thủy Tùng” này có phải là cây Thủy tùng ở Việt Nam, đã được tác giả Lục Bình cất tiếng kêu cứu để loại cây Thủy tùng khỏi bị tiệt chủng. Lý do là vì trong hai cây Thủy Tùng duy nhất còn lại trong một đồn điền cà phê và gửi gắm cho một cặp vợ chồng thì 8 tháng sau một cây đã bị chặt để mở rộng diện tích trồng cà phê đang có giá, còn cây thứ hai thì được dùng làm cọc “ăngten” của máy tivi họ mới tậu được nhờ bán cà phê !? 
GSTS. Thái Văn Trừng – Thuốc & sức khỏe – Số 52 (15-09-1995)

Bác sĩ H. Nakajima và ngành dược phẩm - phần 1

Trong thời gian vừa qua, tạp chí “Le Moniteur” (Pháp) chuyên về dược đã phỏng vấn bác sĩ Nakajima, Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới (OMS) về 1 số vấn đề liên quan đến ngành dược. Sau đây là tóm lược những ý kiến quan trọng, đã được đăng trên số 2127 (24.6.1995) của tạp chí.
Về chương trình của OMS đến năm 2001
- Các trọng tâm là: thanh toán bệnh bại liệt, loại bệnh phong và uốn ván đối với trẻ sơ sinh, xóa bệnh sởi, xóa các bệnh do thiếu sinh tố A và thiếu iốt, khống chế bệnh sốt rét và bệnh gan siêu vi B, hạ thấp còn phân nữa tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, cũng như tỷ lệ chết bà mẹ khi sinh đẻ, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho mọi người ở mức độ thông thường.
- Có 4 biện pháp hàng đầu: tập trung nhân sự nỗ lực quốc gia và quốc tế vào các vấn đề cấp bách nhất và vào nhóm dân cần chăm sóc nhất, tham gia tích cực nhất vào việc cải thiện và phát triển các yếu tố chính trị , kinh tế, xã hội có tính chất quyết định tình hình sức khỏe của cộng đồng, thực hiện viện truyền thông rộng rãi nhằm lôi cuốn mọi người và mọi nhóm dân vào việc tham gia bảo vệ sức khỏe bản thâm mình; động viên mọi lực lượng góp phần đối phó những thiên tai dịch bệnh ở khắp nơi trên thế giới.
- Chức năng và vai trò của người dược sĩ: trong chương trình nói trên. 2 hội nghị của OMS ở New Delhi (1988) và Tokyo (1993) đã đề cập đến vấn đề này. Vai trò của người dược sĩ, kể cả dược sĩ chủ nhà thuốc là làm cố vấn về sức khỏe đi đôi với việc phân phối thuốc. Nhà thuốc (và hiệu thuốc) phải là 1 trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó dược sĩ đảm nhận theo dõi việc sử dụng thuốc men. Ở các nước đang phát triển, dù khó khăn về kinh tế thế nào, phải phấn đấu đảm bảo người dân có thể mua được những thuốc chủ yếu.
Về việc phổ cập thuốc mang tên gốc Generic
Do giá thuốc này ngày càng tăng, đưa việc phân phối và sử dụng những thuốc chủ yếu mang tên gốc (generic tên chung quốc tế) trong cả 2 khu vực quốc doanh và tư doanh, là 1 trong những chiến lược lớn của OMS. Công việc này càng làm nhanh càng tốt.
N.D.C - Thuốc và Sức khỏe - Số 49(1-8-1995)

Kiểm định an toàn và những lưu ý về hệ thống lạnh


Hệ thống lạnh là một phần thiết yếu trong các thiết bị công nghiệp hiện nay. Để sử dụng một cách an toàn thì việc Kiểm định hệ thống lạnh là một công việc khá quan trọng. Hệ thống lạnh là tổng hợp những môi chất làm lạnh, liên kết với nhau thành một môi trường khép kín. Môi chất làm lạnh có thể hấp thu và thải nhiệt. Việc kiểm định hệ thống lạnh được thực hiện trước khi đưa vào sử dụng và trong quá trình vận hành cũng được kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất để đảm bảo sự an toàn. 
Nhờ có hệ thống làm lạnh nhanh mà con người không phải tốn quá nhiều công sức cho việc làm nguội thức ăn trong những dầy chuyền sản xuất thực phẩm. Các thiết bị bằng kim loại hoặc những vật liệu khác đều phải làm nguội, hệ thống làm lạnh cũng rút ngắn được thời gian sản xuất, từ đó giúp tăng năng suất làm việc cho cơ sở sản xuất.
Tuy nhiên, các thiết bị này cần được kiểm định theo chu kì để tránh được nhưng mối hiểm họa có thể phát sinh khi hệ thống bị rò rỉ, các vật chất làm lạnh sẽ bị rò rỉ, từ đó các dung môi làm lạnh sẽ bị tràn ra ngoài, các công nhân giám sát có thể bị bỏng hoặc ngộ độc.  Ngoài ra, những dung môi này có thể rơi vào thức ăn, dẫn đến hiện tượng bị ngộ độc khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm.
Để đảm bảo được sự an toàn về tính mạng cho mọi người và tài sản, chúng ta nên tiến hành kiểm định hệ thống theo định kì.  Trước khi kiểm đinh, hệ thống phải được chuẩn bị rõ ràng sao cho yếu tố thời tiết không ảnh hưởng đến buổi kiểm định. Phải kiểm tra theo các bước: kiểm tra hồ sơ, lý lịch, kiểm tra trình tự từ ngoài vào trong, vận hành thử máy. Các dụng cụ trang thiết bị được sử dụng trong khi kiểm định phải đạt chuẩn theo qui định. Để kiểm định hệ thống, thì các bước phải đạt an toàn theo thứ tự nêu trên. Một hệ thống làm lạnh đạt tiêu chuẩn cần phải hội tụ đầy đủ các điều kiện như sau:
+Không có hiện tượng phồng rộp, có vết nứt ở mặt bên ngoài của các hệ thống lạnh. Ở những mối hàn không có vế xì hở môi.
+Mặt bên trong của bình chịu áp lực không bị han gỉ, đóng cặn bẩn, không xuất hiện các vết nứt cũng như bị mài mòn. 
+Khi kiểm tra những phương pháp vận hành của hệ thống làm lạnh cần phải đảm bảo hệ thống không bị xì hơi, các dung môi làm lạnh không bị rò rỉ. Các thiết bị đo phải ghi nhận được chính xác những thông số thể hiện được sự an toàn của hệ thống khi vận hành.
 

Nói thêm về chuyện trẻ con biếng ăn - phần 1

Một trong những nỗi lo lắng của các bậc cha mẹ đặc biệt là những người theo đúng khẩu hiệu “gia đình hạnh phúc, có từ 1 đến 2 con” - là con mình biếng ăn, mặc dù đã cố gắng ép ăn đủ các thức ăn bổ dưỡng như thịt, cá, trứng, sữa, xương hầm, xúp nấu với khoai tây, cà rốt, củ dền….
Tại sao trẻ biếng ăn thử tìm nguyên do
Có thể có nhiều nguyên do làm cho bé biếng ăn: Trước tiên, ta cần phải xem bé có đang bị đau ốm bởi 1 nguyên do dễ nhận biết, trong phạm vi tai mũi họng như nghẹt mũi, viêm họng, viêm amidan, cảm cúm, viêm tai, đau răng hay sưng nướu, lở mép… không? Đó là chưa kể những bệnh có ảnh hưởng chung đến tổng trạng như tim bẩm sinh, bại não, đương nhiên là rất khó chữa trị. Nếu từ trước tới giờ sức ăn tương đối bình thường, nay bỗng dưng đâm ra biếng ăn, cũng cần cảnh giác, xem có bị sơ nhiễm lao hay thiếu máu chăng - bằng cách thử phản ứng với lao tố hay cho cháu đi xét nghiệm máu, để chữa trị kịp thời. Hay là thời tiết oi bức, bé bị rôm sảy, ta không để ý, cho cháu mặc những quần áo bằng nylon, không thông thoáng, không thấm nước cũng có thể làm cháu nóng nẩy, không được thoải mái mát mẻ, đâm ra biếng ăn.
Biếng ăn vì lý do tâm lý
Có điều chúng tôi hay gặp nhất và muốn lưu ý các bậc cha mẹ: đó là biếng ăn vì nguyên do tâm lý. Theo quy luật tự nhiên, 1 đứa bé thường thích thú khi ăn vì cũ bú hay bữa ăn đáp ứng nhu cầu được no đủ khi cảm thấy đói bụng. Trước hết hãy xem thức ăn dành cho bé có đúng theo sở thích của bé không đã? Có bà mẹ than phiền là “cất công hầm thịt, hầm xương, nấu xúp rất thơm ngon” (theo cảm quan của mình, dĩ nhiên!) mà bé vẫn không chịu nuốt khi được mẹ đút cho ăn. Đó là vì bé không thích mùi vị, hình dạng thức ăn ấy nhưng chưa biết diễn tả ý thích của mình cho mẹ biết (vì chưa biết nói), hoặc nói được nhưng mẹ không quan tâm, lắng nghe. Nhiều khi bé thèm được ăn - mà không nói lên được! Các món ăn thấy cha mẹ ăn 1 cách ngon lành như phở, bánh cuốn, bún riêu… mà mẹ thì cứ bắt ăn món xúp, cả nhà chẳng ai ăn, chỉ có 1 mình bé là buộc phải ăn, “chẳng giống ai”! Thay vì ép bé ăn, người lớn hãy làm bộ giành ăn với bé, nhiều khi làm trẻ thích ăn hơn.
PV - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15.07.1995)

Phân biệt cảm lạnh và viêm mũi dị ứng

Triệu chứng có thể giống nhau nhưng khác nhau về cách trị liệu. Mặc dù cảm lạnh và viêm mũi dị ứng khác nhau về bệnh sinh, hai loại bệnh này cùng biểu hiện những triệu chứng tương tự. Bác sĩ và Dược sĩ dược phòng cần phải phân biệt cảm lạnh và viêm mũi dị ứng đồng thời ghi nhận được những biến chứng trên cơ sở các triệu chứng và bệnh sử của bệnh nhân. Nhờ đó, có thể hướng dẫn bệnh nhân sử dụng những phương thức điều trị chính xác, an toàn và hữu hiệu. Sau đây là tóm tắt về các triệu chứng của cảm lạnh, viêm mũi dị ứng và cách chọn lựa thuốc để làm giảm ho, chống sung huyết mũi thích hợp cho bệnh cảm lạnh.
Cảm lạnh
Cảm lạnh bao gồm các triệu chứng tác động lên đường hô hấp trên sự nhiễm một hoặc hoặc loại virus. Cảm lạnh có thể có những triệu chứng ở mũi, họng, hầu hoặc phế quản. Vì hiện nay chưa có thuốc đặc trị các chứng nhiễm virus đường hô hấp, biện pháp thích hợp nhất để điều trị chúng là trị triệu chứng và tăng cường sức đề kháng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của virus. Phương thức điều trị triệu chứng có thể tóm tắt như sau :
- Ho, dùng các thuốc chống ho hoặc chống long đờm.
- Nghẹt mũi, chảy nước mũi dùng các thuốc chống sung huyết mũi
- Khô cổ, rát cổ, dùng các loại kẹo ngậm thông cổ.
- Sốt, nhức đầu, dùng thuốc giải nhiệt giảm đau.
Ở người có sức khỏe bình thường, triệu chứng chỉ kéo dài khoảng từ 5 đến 7 ngày. Để duy trì tốt thể trạng, người bệnh nên có chế độ ăn giàu chất dinh dưỡng, đầy đủ vitamin và khoáng chất. Dùng vitamin C trong thời gian bị cảm lạnh sẽ làm giảm 50% các triệu chứng khó chịu. Các biện pháp dân gian có thể sử dụng bổ sung là nồi lá xông, cháo giảm cảm.
Viêm mũi dị ứng
Viêm mũi dị ứng là một phản ứng dị ứng của niêm mạc mũi với các dị ứng nguyên mà bệnh nhân hít phải. Triệu chứng bệnh có thể biểu hiện suốt năm hoặc theo mùa tùy thuộc vào sự hiện diện của các kháng nguyên trong môi trường sống. Viêm mũi dị ứng ở nước ta thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong các bệnh về đường hô hấp. Cá triệu chứng của bệnh viêm mũi dị ứng là kết quả của sự sung huyết niêm mạc đường hô hấp. Các triệu chứng đó là chảy nước mũi, nhảy mũi, ngứa mũi, nghẹt mũi. Bệnh nhân còn có thể có cảm giác ngứa ngáy. 
- Cách li với nguồn nhiễm các kháng nguyên hoặc ngăn chặn các đáp ứng miễn dịch.
- Sử dụng các dược phẩm hạn chế hoặc ngăn chặn tiến trình đáp ứng miễn dịch một khi nó xuất hiện. Những dược phẩm ấy bao gồm các thuốc kháng histamine và các chất chống sung huyết (decongestans).
Lưu ý : Có rất nhiều chế phẩm trị cảm lạnh. Vì thế bác sĩ và dược sĩ cần phải khuyến cáo bệnh nhân nên sử dụng loại thuốc nào an toàn và hữu hiệu nhất. Dextromethorphan là thuốc ho được sử dụng rộng rãi nhất vì nó không có những tác động có hại như codein. Không giống như  codein, Dextromethorphan không làm sệt đờm dãi gây ra bởi sự ức chế hoạt động của nhung mao, cũng không làm giảm sự tiết dịch ở đường hô hấp và không làm suy giảm hoạt động của màng nhày niêm mạc. Các thuốc kháng histamine rất hữu hiệu trong điều trị viêm mũi dị ứng. Mặc dù thuốc kháng histamine thường được dùng như chất chống sung huyết mũi trong điều trị chứng cảm lạnh, cho đến nay vẫn có rất ít chứng cớ khoa học cho việc sử dụng này. Lý giải cho việc này có thể là do tác động kháng đối giao cảm của thuốc kháng histamine làm giảm sự tiết dịch ở niêm mạc và làm giảm chảy nước mũi. Tuy vậy tác động kháng đối giao cảm sẽ tăng độ sệt của đờm dãi. Sau khi tìm hiểu bệnh sửu và lượng định các triệu chứng, bác sĩ và dược sĩ sẽ phân biệt được cảm lạnh và viêm mũi dị ứng để khuyên bệnh nhân phương thức chữa trị an toàn và hữu hiệu. Cần chú ý, điều trị cảm lạnh là để làm giảm triệu chứng trong khi điều trị viêm mũi dị ứng là để ngăn ngừa.
PV – Thuốc & sức khỏe – Số 50 (15-08-1995)

Nổi sẩn ngứa

Hỏi : Em là nữ, năm nay 23 tuổi. Từ đầu mùa hè năm nay em bị ngứa, đầu tiên ở hai tay và hai chân, sau đó ngứa khắp người. Càng gãi càng ngứa nhưng nếu không gãi thì không chịu nổi. Khi mới bị em cho là bị côn trùng đốt (em ngồi bán hàng tạp hóa cả ngày, trước chỗ ngồi là một rãnh thoát nước thải vì vậy rất nhiều muỗi). Em mua thuốc xịt xung quanh chỗ ngồi bán hàng đồng thời mua Eurax về bôi. Bôi thuốc thì ngứa có giảm tại chỗ bôi nhưng sau đó lại vẫn ngứa. Khắp người em toàn sẩn ngứa (nốt sẩn nhỏ không loét, không có mủ nhưng vùng da đó dày cộm lên). Sau đó em lại bôi hồ nước tại chỗ những vết sẩn ngứa đồng thời tiêm Vitamin C 1 gram, ngày 1 ống. Tới nay đã hơn 1 tháng rồi nhưng sẩn ngứa vẫn không hề thuyên giảm, mỗi khi đi ra nắng, người em lại đỏ rực lên, mồ hôi ra rất sót và càng ngứa. Vậy em xin Tòa soạn cho biết nguyên nhân vì sao và cách chữa trị. Hiện giờ em vẫn thoa Eurax và tiêm Vitamin C hàng ngày. Nhiều người khuyên em nên tiêm thêm Calci. Em rất phân vân. Xung quanh em các chị bán hàng cũng giẫy cũng bị ngứa như vậy, các chị cũng dùng thuốc như em, nhưng có người đỡ có người không. Em vẫn xịt muỗi hàng ngày. (Đào Hải Khanh – Hà Nội).
Đáp : Có thể loại trừ các sẩn không ngứa như :
- Sẩn trong bệnh giang mai.
- Sẩn trong hội chứng Gianotti – Crosti thường hay xuất hiện trước bệnh viêm gan siêu vi B.
Nổi sẩn ngứa ở đây có thể do :
- Côn trùng đốt (muỗi, kiến, rệp, bọ chét, ve, vắt, v.v…). “Mua thuốc xịt muỗi về xịt xung quanh chỗ ngồi bán hàng” là cô đã tự biết cách phòng bệnh rồi.
- Rôm sảy (Miliariarubra, Pricklyheat) thường đi kèm nắng hạ, mọc răng sữa, nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Thực ra ở rôm sảy chúng ta thường thấy một sẩn – mụn nước li ti, ngứa nhiều gãi da dày cộm lên rồi ra nắng da đỏ rực lên. Dùng sinh tố C tiêm như cô giúp ích đôi phần nhưng xin đừng tiêm lâu ngày như vậy dễ bị rối loạn hấp thu ruột.
- Sẩn ngứa trẻ em (Prurigo strophulus) thường gặp ở trẻ em từ 6 tháng đến 3 – 4 tuổi, chắc chắn không phải là bệnh của cô đâu !
- Sẩn ngứa cấp tính ở người lớn (Prurigo Simplex aigu de I’adultc). Có thể do cảm ứng ánh nắng, nên còn gọi là sẩn ngứa màu hè, sẩn ngứa màu đông (đợt vượng bệnh). Cũng hay gặp ở người mang thai, người bị rối loạn tiêu hóa. Bệnh diễn biến từ 2 tuần lễ đến 4 – 5 tháng. Chỉ tạm thời thoảng qua.
- Ghẻ ngứa (Scabies). Ngứa nhiều về đêm và trong nhà, trong tập thể có người khác cũng ngứa, Eurax cream (Crotamiton 10%) trong trường hợp này chỉ có kết quả khoảng 58% nên trong số các chị bạn của cô có người hết, có người vẫn ngứa. Muốn tăng tác dụng thuốc có thể bôi Eurax 2 lần rồi để vậy trong 48 tiếng mới tắm giặt. Một tuần sau lặp lại một lần nữa. Cách này đối với người lớn có hơi bất tiện nhưng ở nhũ  nhi cho kết quả tốt hơn.Hay là cô rủ các chị bạn cùng đổi sang một loại thuốc khác như DEP nước, Benzoate de Benzyl hoặc Lindane 1% (Kwell cream = Gramma benzene hexachloride). Thuốc này chống chỉ định ở phụ nữ có thai hay cho con bú. Cách bôi thuốc cũng khác hơn Eurax : chỉ bôi 1 lần duy nhất từ cổ đến chân đặc biệt chú ý đến những phần da mềm, lỏng lẻo, các khoeo kẹt và để khoảng 8 đến 12 giờ là đủ, không cần phải để qua đêm và tuyệt đối không được bôi lặp lại vì độc cho hệ thần kinh trung ương. Sau đợt điều trị, cảm giác ngứa còn kéo dài, trong vài tuần lễ mới khỏi hẳn. Lúc này không nên bôi thuốc nữa mà nên uống thuốc kháng histamine tổng hợp.
Nói tóm lại, trường hợp của cô và các chị bạn của cô nên :
- Kiểm tra lại chế độ ăn uống
- Dò tím rối loạn tiêu hóa, nhiễm ký sinh trùng đường ruột
- Điều trị thử ghẻ ngứa
- Và nên uống thêm thuốc kháng histamine tổng hợp.
BS. Võ Ngọc Thanh – Thuốc & sức khỏe – Số 50 (15-08-1995)

Xu hướng đồng phục hot nhất hiện nay

 Xu hướng đồng phục hot nhất hiện nay
Chiếc áo lớp, nhóm luôn là kỉ niệm vô cùng đáng nhớ của tuổi học trò và trở thành su hướng thời trang mà lứa tuổi học trò quan tâm nhất. Chính vì vậy sự ra đời của mẫu đồng phục áo nhóm, lớp đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết này. Những chiếc áo lớp, áo nhóm rất có ý nghĩa bởi vì nó thể hiện cái tôi của mình khi nó được xây dựng lên từ những ý tưởng của các thành viên trong lớp. Từ đó mẫu áo này luôn thể hiện được những nét riêng biệt cũng như cái riêng của lớp mình. Nhưng làm thế nào để cho ra mẫu đồng phục cho nhóm, lớp mình thỳ không hề đơn giản một chút nào. Trên cơ sở đó với mục đích để từ những ý tưởng của các bạn xây dựng lên một mẫu áo của lớp cũng như nhóm để ưng ý nhất luôn là vấn đề được đặt ra nghiên cứu hàng đầu.

Màu sắc là yêu tố rất quan trọng trong việc đặt đồng phục nhóm, lớp làm sao để phù hợp với tất cả thành viên trong lớp.Thông thường màu sắc chủ đạo thường thấy sẽ là sự kết hợp giữa ba gam màu phổ biến cho đồng phục áo nhóm, lớp đó là  màu trắng, màu đỏ và màu xanh. Khi thiết kế đồng phục áo nhóm lớp thì điều đầu tiên là cần phải lựa chọn kĩ lưỡng về hình ảnh họa tiết, không nhất thiết phải sử dụng nhiều hình ảnh, slogan mới là đẹp.
Hầu hết đồng phục áo lớp và đồng phục áo nhóm được sản xuất từ chất liệu là vải thun làm từ sợ vải cotton và polyester, ngoài ra vải thun còn được pha trộn gữa 2 loại chất liệu trên. Có rất nhiều cách thức để cho các bạn lựa chọn, sao cho phù hợp với chất lượng cũng như giá sản phẩm.
Với chất vải cotton thì có những loại phổ biến sau:
 + Vải (35/65) hay vải TC: có thành phần là 35% cotton, 65% PE, sự kết hợp này tạo cho áo độ mềm vừa phải và vẫn giữ được độ cứng của PE.
+ Vải (65/35) hay vải CVC: 65% cotton và 35% PE, loại này thường sử dụng may các loại áo phông cao cấp, giá thành cao.
+ Vải 100% cotton cấu thành từ 100% cotton (sợi bông) nên đem lại cảm giác mềm mại, thấm hút mồ hôi tốt. Vải này sử dụng cho các dòng áo phông cao cấp hiện nay, tuy nhiên giá thành loại vải này thường cao so với các loại khác. 
Với chất vải cá sấu: cũng được làm từ nguyên liệu cotton nhưng lỗ dệt vải cá sấu to hơn vải cotton nên đột thấm hút rất hiệu quả  giúp người mặc áo thun có cảm giác thoái mái cho dù trời nắng nóng.

Tìm hiểu về thuốc kháng Histamin

Qua bài “Những bí mật của dị ứng” (Thuốc & sức khỏe số 41 đến 43) bạn đọc đã biết rõ tại sao bị dị ứng. Sau đây Phó giáo sư Nguyễn Đình Bảng sẽ giúp ta tìm hiểu về các thuốc chống dị ứng để chọn lọc và sử dụng chúng cho an toàn.
30 năm sau khi phát hiện Histamin, Ungar, Parrot và Bovet là những người đầu tiên tìm ra những chất có tác dụng chống lại hoạt tính của Histamin. Và từ giới (1973) những chất kháng Histamin H1 được tìm thấy ngày một nhiều. Năm 1972, một loại kháng Histamin mới (kháng Histamin H2) được tìm ra. Và gần đây, người ta đã phát hiện được những chất, đồng thời kháng cả H1 và H2 một cách chọn lọc, mà phản ứng phụ không đáng kể.
Các chất kháng Histamin H1
- Cấu trúc hóa học và phân loại
kháng Histamin H1 có những cấu trúc tương tự chuỗi bên của Histamin, kìm chế hoạt động của Histamin ở thụ thể H1 mà không ảnh hưởng gì đến sự phóng Histamin ra khỏi dưỡng bào (mastocyte) và bạch cầu ưa kiềm (basophile). Phần lớn các chất này có công thức chung của ethanolamin, được chia ra làm 2 nhóm :
+ Nhóm Ethanolamin
+ Nhóm Ethylenediamin
+ Nhóm Propylamin
+ Nhóm Piperazin
+ Nhóm Phenothiazin
+ Nhóm Peperine
Một vài chất có cấu trúc hóa học khác kháng Histamin H1, nhưng có hoạt tính tương tự : như Ketotifen, Terfenadin, Cyproheptadin, Clemastin, Thenalidin, Tripolidin. Bên cạnh đó, một số chất, công thức tổng quát giống kháng Histamin H1, mà lại có nhiều tính chất phụ : những chất an thần thuộc nhóm Phenothiazin, một vài chất alpha – adrenolytic, một vài chất kháng Serotonin.
- Dược động học
Kháng Histamin H1 được hấp thụ nhanh qua ruột. Sau khi uống khoảng từ 30 đến 45 phút, thuốc bắt đầu có tác dụng. Thời gian tác dụng kéo dài từ 4 đến 6 giờ. Cũng có một vài loại, tác dụng lâu hơn (12 đến 24 giờ) thường dưới dạng bào chế (Polaramine, Dimegan, Proactidilon, Aphilan). Riêng Mequitazin và Terfenadine, dưới dạng các phân tử, nên thời gian tác dụng kéo dài từ 8 đến 16 giờ, tùy theo mỗi người. Các chất kháng Histamin được giải độc ở gan, và có khả năng làm tăng hoạt tính các enzym ở gan, làm tăng tác dụng một số thuốc như glucocorticoid.
- Tính chất
Tính chất cơ bản của kháng Histamin H1 là tính tranh chấp mãnh liệt của nó vào thụ thể H1 của Histamin, khiến cho Histamin không còn tác dụng, mặc dù việc tổng hợp và giải phóng Histamin vẫn bình thường. Vì thế kháng Histamin H1 có tính dự phòng nhiều hơn là điều trị. Tác dụng biểu hiện rõ ở các cơ trơn (hồi tràng, phế quản), các mạch ngoại biên (cả động mạch và tĩnh mạch), ngay cả mạch não. Ở bên ngoài, kháng Histamin H1 ức chế tạm chứng Lewis khi làm nghiệm pháp “dị ứng tức thì” ngoài da. Còn với hệ thần kinh trung ương, kháng Histamin H1 vừa kích thích, vừa kiềm chế. Biểu hiện bằng sự bồn chồn, mất ngủ hoặc đờ đẫn, mê mệt khi dùng Promethazine, Diphenhydramine, Tripolidine. Ngày nay, người ta đã tìm ra những chất kháng Histamin H1 có tác dụng chậm, tối hôm trước dùng, sáng hôm sau đã tỉnh táo nhưng thuốc vẫn còn tác dụng (thuốc thông qua màng não, ái tính của nó đối với các cảm thụ quan của hệ thần kinh trung ương rất yếu). Các kháng Histamin H1 mới này, không hỗ trợ cho các chất đè nén hệ thần kinh trung ương (như rượu, thuốc ngủ an thần), những chất kháng Histamin H1 cổ điển trước đây. Ngoài ra, kháng Histamin H1 còn một số tác dụng phụ như chống lại việc tiết Cholin, kháng Serotonin và alpha – adrenolitic. Tính kìm chế phó giao cảm kiểu mucarin này, làm giảm tiết nước bọt, dịch vị, giảm nhu động tiêu hóa, tiểu khó, làm quánh đặc đờm trong phế quản. Và cũng vì thế, một số kháng Histamin có tác dụng chống nôn (Promethazin, Diphenhydramine…) giảm ho (do cơ chế hỗn hợp cả ngoại biên và trung ương như Promethazin, Doxylamin, Mequitazin), chống ngứa, gây tê (Phenergan). Có loại kích thích tiêu hóa, cảm thấy ăn ngon miệng, lên cân (cyproheptadine) nhưng cũng có những chất trái ngược lại, làm người bệnh chán ăn (Doxyllamine).
PGS. Nguyễn Đình Bảng – Thuốc & sức khỏe – Số 47 (01-07-1995)